Kinh tế có thể tăng trưởng âm nếu dịch kéo dài 

Xem với cỡ chữ
Tại Tọa đàm trực tuyến công bố Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý I.2020 sáng 13.4, đại diện Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, trong trường hợp xấu nhất, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng âm trong năm nay. VEPR khuyến nghị, trong mọi hoàn cảnh, Chính phủ phải tạo điều kiện tốt nhất cho những doanh nghiệp còn có khả năng hoạt động, có phương án thích ứng vừa sản xuất vừa phòng chống dịch bệnh; đồng thời, tránh "ngăn sông cấm chợ" cực đoan ở một số địa phương.

Ba kịch bản tăng trưởng

Tại cuộc tọa đàm, TS Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng của VEPR cho biết tăng trưởng kinh tế quý I đạt 3,82%, cả 3 khu vực dịch vụ; nông lâm ngư nghiệp; công nghiệp và xây dựng đều suy yếu. Về thương mại, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 2,8 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,2 tỷ USD. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) chiếm 68,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 40,43 tỷ USD, giảm 2,9%. Khu vực FDI vẫn là chủ lực trong xuất khẩu. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 15,5 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước.


Kinh tế có thể tăng trưởng âm vì Covid - 19

Cũng theo VEPR, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I so với cùng kỳ năm trước tăng 5,56%. Với thực trạng nền kinh tế thế giới và trong nước gặp khó khăn, nhu cầu mua sắm và tiêu dùng hàng hóa của người dân giảm, giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng hóa cũng giảm, VEPR dự báo lạm phát bình quân của quý II khả năng sẽ thấp hơn quý I. Trong năm nay, rủi ro lạm phát do cầu kéo gần như không có, rủi ro từ tỷ giá ở mức thấp trong khi rủi ro do gián đoạn nguồn cung (lương thực thực phẩm) tăng lên. Mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4% có thể đạt được nếu giá cả lương thực thực phẩm được kiểm soát tốt.

VEPR đã xây dựng 3 kịch bản cho kinh tế Việt Nam trong năm nay. Ở kịch bản lạc quan, dịch Covid-19 được khống chế hoàn toàn  vào giữa tháng 5 và hoạt động kinh tế dần trở lại bình thường. Trong khi đó, thế giới cũng bắt đầu nới dần các biện pháp phong tỏa. Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, vẫn còn dè dặt và chỉ dần hồi phục từ cuối quý II. Từ quý III cho tới hết năm, tăng trưởng của các ngành có thể quay trở lại mức tăng trưởng những năm gần đây. Với kịch bản này, tăng trưởng GDP quý II sẽ ở mức âm 3,3%, quý III đạt 7,2%, quý IV đạt 7,4%, trung bình cả năm đạt 4,2%.

Theo kịch bản trung tính, dịch Covid-19 trong nước kéo dài và chỉ được khống chế hoàn toàn vào nửa sau quý III. Trong thời gian này, thế giới tiếp tục các biện pháp giãn cách xã hội do sự tái phát của bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế tài chính quan trọng. Các hoạt động kinh tế trên thế giới chỉ dần trở lại bình thường bắt đầu vào cuối quý III. Từ quý IV cho tới hết năm, tăng trưởng của các ngành có thể quay trở lại mức tăng trưởng của những năm gần đây. Với kịch bản này, tăng trưởng GDP quý II sẽ ở mức âm 4,9%, quý III âm 1,1%, quý IV đạt 7%, trung bình cả năm đạt 1,5%.

Kịch bản bi quan được xây dựng với bối cảnh dịch kéo dài và chỉ được khống chế toàn toàn vào nửa sau quý IV. Trong thời gian này, thế giới tiếp tục các biện pháp giãn cách xã hội do sự tái phát của bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế tài chính quan trọng. Các hoạt động kinh tế trên thế giới chỉ dần trở lại bình thường bắt đầu vào cuối quý IV. Khi đó tăng trưởng GDP quý II sẽ âm 5,1%; quý III âm 5,3%, quý IV đạt 2,8% và trung bình cả năm tăng trưởng âm 1%.

Ứng phó 2 cấp độ: "hỗ trợ" và "cứu trợ"

Tuy nhiên, TS Phạm Thế Anh nhấn mạnh: "Trong bất kỳ kịch bản nào, thời kỳ hậu Covid-19 ở Việt Nam, sự phục hồi hoàn toàn của nhiều ngành như hàng không, du lịch hay thời trang xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn và kéo dài cho tới khi thế giới hoàn toàn kiểm soát được bệnh dịch”. Trong ngắn hạn, chi tiêu của khu vực công có thể bù đắp được những khó khăn trên nhưng trong dài hạn là không thể.

TS Phạm Thế Anh cho rằng, triển vọng kinh tế Việt Nam những năm sau phụ thuộc nhiều vào việc phát triển thành công vaccine hoặc thuốc đặc trị trên thế giới. Con số tăng trưởng GDP cũng không phản ánh được hết những khó khăn thật của nền kinh tế do không phản ánh được đầy đủ khu vực phi chính thức vốn bị ảnh hưởng nặng nề hơn hẳn so với những đợt suy thoái trước đây. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, Chính phủ phải tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp còn có khả năng hoạt động, có phương án thích ứng vừa sản xuất vừa phòng chống dịch bệnh; tránh "ngăn sông cấm chợ" cực đoan ở một số địa phương.

Trong khi nguồn lực tài khóa hạn hẹp (thâm hụt ngân sách, nợ công), chính sách tài khóa gặp ràng buộc về mục tiêu lạm phát và tỷ giá, VEPR cho rằng, các chính sách phải đúng trọng tâm, tránh dàn trải gây tốn kém nguồn lực. Cần xây dựng các kịch bản ứng phó chính sách khác nhau đối với các cấp độ về bệnh dịch và chia thành các cấp độ chính sách "hỗ trợ" và "cứu trợ”: Đối với nhóm doanh nghiệp bị ngưng hoạt động, cần khoanh/ngưng các chi phí tài chính như khoanh nợ/lãi, tiền thuê đất... Sau khi bệnh dịch qua đi, nếu còn hoạt động trở lại mới khuyến khích tín dụng. Chính sách giãn hay thậm chí là miễn các loại thuế không có tác dụng với nhóm doanh nghiệp này.

 Đối với nhóm doanh nghiệp bị ảnh hưởng nhưng còn hoạt động cần có tiêu chí phân loại mức độ chịu ảnh hưởng và hỗ trợ bằng cách hoãn/miễn đóng bảo hiểm xã hội, tiền thuê đất, lãi vay, giãn thu thuế VAT (không phải thuế thu nhập doanh nghiệp); ưu đãi vốn vay nhưng phải bảo đảm phương án kinh doanh khả thi để tránh nợ xấu. Đối với nhóm các doanh nghiệp ít hoặc không bị ảnh hưởng, hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả thì cần hết sức tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành vì đây là nhóm gánh đỡ cho cả nền kinh tế.

An Thiện