Múa rối trên không 

Xem với cỡ chữ
Từ trò chơi nơi thôn dã, diều Huế đã được đưa vào Hoàng cung và trở thành thú chơi được nâng lên tầm nghệ thuật. Sự đặc sắc của diều Huế được ví như nghệ thuật múa rối trên không.

Từ dân gian đến Hoàng cung

Chưa ai khẳng định diều Huế có từ bao giờ nhưng theo các nghệ nhân cao tuổi, thú chơi này phải có vài trăm năm tuổi trước khi được đưa vào Hoàng cung. Diều Huế ban đầu chỉ là những cánh diều đơn giản, ít màu sắc..., là trò chơi của trẻ nhỏ nơi thôn dã. Đến thời Bảo Đại (1926 - 1945), vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, diều được đưa vào cung để thỏa mãn nhu cầu giải trí của vua. Diều của vua phải khác với diều của thường dân và vì thế với đôi bàn tay khéo léo, óc tưởng tượng phong phú, các nghệ nhân đất Huế đã làm ra những cánh diều nghệ thuật. Nếu như dân gian chỉ có diều mặt trăng, mặt trời, diều cánh cung thì vua có diều long, diều phượng, diều bướm, diều ưng...

Thời phong kiến, ở Huế rất chuộng diều bướm (điệp diều) vì có màu sắc sặc sỡ, khi thả diều bay lượn nổi bật lên trên nền trời trong xanh. Theo ý vua, hàng năm Phủ doãn Thừa Thiên thường xuyên tổ chức thi thả diều. Qua những hội thi ấy, người chơi diều Huế thường nhắc đến những tên tuổi như: Nguyễn Văn Bân, Đoàn Chước, Trần Văn Đông, Ưng Sừng, Ông Hạng... Họ là những người chơi và làm diều tài hoa. Diều của họ luôn được cải tiến về mẫu mã, chất liệu và dần dần biến thú chơi diều trở thành nghệ thuật.

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), do chiến tranh, những cánh diều gần như vắng bóng trước Ngọ Môn và dọc đôi bờ sông Hương. Những tưởng thú chơi tao nhã, đậm nét văn hóa truyền thống ấy đã mai một thì đến năm 1973, xuất hiện trở lại phong trào chơi diều mang tên Cầu Phong. Từ phong trào đó, một số người tâm huyết đã đứng ra lập hội chơi diều Thừa Phong, với 10 thành viên tiếp nối nghệ thuật làm diều và thả diều, nhưng chỉ tồn tại được hai năm. Mười năm sau (1983), được sự động viên của các cấp chính quyền, những nghệ nhân tâm huyết đã tập hợp nhau lại, thành lập và ra mắt CLB Diều Huế, thuộc Trung tâm Văn hóa TP Huế, do nghệ nhân Nguyễn Văn Bê làm Chủ nhiệm.

Kỹ thuật và tài hoa

Khác với diều sáo của vùng đồng bằng Bắc bộ, diều Huế vừa yêu cầu phải có kỹ thuật (bí quyết để diều bay cao), vừa phải có sự tài hoa, khéo léo trong trang trí (nét riêng để tạo nên những chiếc diều độc đáo). Phó chủ nhiệm CLB Diều Huế, nghệ nhân Nguyễn Đăng Hoàng cho biết, làm diều Huế phải qua các công đoạn chọn và vót tre theo kích cỡ, sau đó ghép các thanh tre lại, tạo khung theo hình con vật mà diều mô phỏng như bướm, công, rồng, phượng... Khi khung tre thành hình thì căng vải để bôi hồ và sơn, vẽ lên vải, cuối cùng buộc dây và thả diều. Mỗi con diều được làm ra là một tác phẩm nghệ thuật, kết hợp nhiều yếu tố như kinh nghiệm, kiến thức về kiến trúc, khí động học, hội họa... và qua rất nhiều lần thử nghiệm mới trình diễn trước công chúng.  “Làm diều khó nhất là phần khung nên phải tính toán thật chính xác chiều ngang của cánh, của đuôi cho từng loại diều. Tiếp đến là buộc dây lèo - được coi là hồn của diều. Dây lèo sẽ nối với dây thả diều, tạo lực đẩy, sự cân bằng cũng như quyết định độ cao hay thấp của diều khi bay” - nghệ nhân Nguyễn Đăng Hoàng chia sẻ.

Qua thời gian, trí sáng tạo của các nghệ nhân diều Huế đã khiến những con diều có sự thay đổi rõ rệt từ kỹ thuật làm diều đến chất liệu, nét vẽ trang trí. Những khung diều hoàn toàn bằng tre rất nhẹ đã thay thế cho khung nhôm, khung thép của cách làm diều truyền thống. Có nghệ nhân làm cả diều máy bay, vừa bay, vừa nhào lộn và thả bom... Nghệ thuật thả diều của các nghệ nhân Huế cũng đạt trình độ cao siêu như nghệ thuật làm diều. Với những chiếc diều truyền thống, họ có thể mê hoặc người xem bằng các màn biểu diễn hoa mỹ trong những tích truyện cổ như: phượng hoàng đẻ con, đại bàng đánh cắp công chúa, chèo bẻo đánh quạ, Tấm Cám, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thạch Sanh chém trăn tinh... Sự đặc sắc của diều Huế được ví như nghệ thuật múa rối trên không.


                Ảnh: Dương Anh Xuân, HVV, Việt Cường

Rạng danh năm châu

CLB Diều Huế được thành lập ban đầu với khoảng 20 thành viên, đến nay, qua 30 năm phát triển, số thành viên CLB đã tăng gấp nhiều lần. Những nghệ nhân tâm huyết, tài năng như: Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Văn Ry, Nguyễn Đăng Hoàng, Nguyễn Văn Cư... làm rạng danh cho diều Huế qua các liên hoan diều trong nước và quốc tế. Diều Huế đã chính thức được kết nạp là thành viên Hiệp hội Diều quốc tế và Hội Diều ASEAN.

Kể từ Festival Huế đầu tiên năm 2000, đến nay qua 7 kỳ Festival diều Huế đều tham gia và được chọn để trưng bày, biểu diễn, làm đạo cụ cho các chương trình trình diễn thời trang. Diều Huế cũng tham gia Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội... Đặc biệt, từ năm 1992 đến nay, đều đặn hai năm một lần, CLB Diều Huế lại đại diện cho diều Việt Nam tham dự liên hoan diều quốc tế tổ chức tại Pháp - thủ phủ của nghệ thuật thả diều thế giới. Những cánh diều độc đáo, đầy màu sắc cùng kỹ thuật thả diều điêu luyện đã để lại ấn tượng khó quên cho người xem ở khắp nơi. Thương hiệu diều Huế bay xa, một số nghệ nhân diều Huế được mời sang Pháp dạy học sinh cách làm diều Huế. Diều Huế thậm chí còn được chọn trưng bày tại Bảo tàng Thiếu nhi Houston, Mỹ.

Tại quê hương, các nghệ nhân Huế thường xuyên mở lớp dạy làm diều, thả diều cho thanh, thiếu niên. Trong các hội thi thả diều ở Huế, màn biểu diễn thả diều đầu tiên bao giờ cũng do thiếu nhi thực hiện, sau đó mới đến phần thi của nghệ nhân. Đây chính là một cách để góp phần sbảo tồn môn nghệ thuật đặc sắc của vùng đất cố đô, giúp nghệ thuật chế tác và thả diều truyền thống ở Huế phát triển lâu bền.

 Theo Giám đốc Trung tâm Văn hóa TP Huế Nguyễn Anh Tuấn, hiện TP Huế có khoảng 40 nghệ nhân làm diều và trình diễn diều. Tại Festival Huế lần thứ 8, diễn ra từ ngày 12.4 - 20.4, CLB Diều Huế sẽ là hạt nhân tổ chức liên hoan Những cánh bay Việt Nam, có sự tham gia của đại diện 3 khu vực Bắc - Trung - Nam. Ngoài  hoạt động trưng bày diều Huế, diều sáo Bắc bộ và diều Nam bộ, các đơn vị tham gia sẽ tổ chức thả, trình diễn giới thiệu nghệ thuật diều Huế đến khách du lịch. Dự kiến địa điểm thả diều là quảng trường Ngọ Môn, khu vực Phu Vân Lâu và một số điểm dọc hai bờ sông Hương...

Nhữ Sơn