Với quy định mới trong Hiến pháp, <br> nhân dân có địa chỉ cụ thể để kiểm soát thực hiện quyền tư pháp 

Xem với cỡ chữ
* Công bằng và công lý của quốc gia biểu hiện tập trung nhất ở quyền xét xử của Tòa án * Thể chế hóa đầy đủ tư tưởng Hiến định về nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Công bằng và công lý của quốc gia biểu hiện tập trung nhất ở quyền xét xử của Tòa án

Chương VIII Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 có nhiều điểm mới, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp.

Trước hết xét về hình thức, Chương về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp năm 1992 gồm 15 điều, Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 chỉ có 8 điều với việc thể hiện logic, chặt chẽ đi từ vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động đến nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan và chỉ quy định những vấn đề nền tảng thuộc tầm hiến định; không quy định những vấn đề thuộc tầm luật định.

Về nội dung, Chương VIII Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có những điểm mới cơ bản sau đây:

Một là, Tòa án nhân dân không những được quy định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam như Hiến pháp năm 1992 mà còn khẳng định thực hiện quyền tư pháp (Điều 102). Quy định mới này, thống nhất với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta ghi nhận ở khoản 3, Điều 2 của Hiến pháp: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước một cách mạch lạc; đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp; công bằng và công lý của một quốc gia biểu hiện tập trung nhất ở quyền xét xử của Tòa án. Từ đây, nhân dân sẽ có địa chỉ cụ thể để kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp mà nhân dân đã giao phó, đã ủy quyền cho Tòa án.

Hai là, vai trò và nhiệm vụ của Tòa án cũng như vai trò nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân có sự điều chỉnh, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp. Đối với tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Điều 102 khoản 3 đã đưa lên hàng đầu vai trò và nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân sau đó mới quy định tiếp bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân. Đối với Viện kiểm sát nhân dân, nhấn mạnh vai trò và nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân sau đó mới quy định: bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (khoản 3 Điều 107). Trong lúc đó, Hiến pháp năm 1992 không phân biệt có sự khác nhau giữa vai trò và nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát, cả hai thiết chế đều giống nhau và quy định chung vào một điều: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của công dân, bảo vệ tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126). So sánh với quy định của hai bản Hiến pháp, có thể thấy Hiến pháp sửa đổi đã có một nhận thức mới về vai trò và nhiệm vụ của hai thiết chế Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân; hoàn toàn phù hợp với tư duy xây dựng nhà nước pháp quyền là đề cao quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, coi con người là chủ thể là nguồn lực chủ yếu và là mục đích của sự phát triển;

Ba là, Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 đã quy định những nguyên tắc, nền tảng về tổ chức và hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Các nguyên tắc này được quy định trong một điều (Điều 103) gồm 7 khoản (7 nguyên tắc) với sự thể hiện chính xác, súc tích và có những tư duy mới.

Cụ thể, Khoản 1 quy định: Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Cũng nguyên tắc này Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm trong nội dung của nguyên tắc này Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Có thể đây là quy định mở để tiếp tục cải cách chế định hội thẩm nhân dân, bảo đảm cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử một cách phù hợp, khắc phục những hạn chế của chế định Hội thẩm nhân dân hiện hành.

Khoản 5 quy định Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là một nguyên tắc mới ra đời trong Hiến pháp nước ta, thể chế hóa quan điểm của Đảng ta về cải cách tư pháp tăng cường tranh tụng trước phiên tòa. Nguyên tắc này góp phần rất quan trọng để tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tư pháp nước ta là một nền tư pháp dân chủ, công bằng và công lý.

Khoản 6 quy định Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm vừa thể hiện xét xử hai cấp được bảo đảm, quyền con người, quyền công dân được pháp luật bảo vệ và bảo đảm vừa đề cao trách nhiệm của Tòa án trong xét xử.

Bốn là, tuy không quy định ở chương VIII, nhưng ở chương V – Quốc hội, Hiến pháp (sửa đổi) có một quy định rất mới, đó là trong thẩm quyền của QH ở Điều 70, khoản 7 có quy định: Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Quy định mới này nhằm nâng cao vị thế và trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao nói chung, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nói riêng trong việc thực hiện quyền tư pháp. Đồng thời là cơ sở để đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, xứng đáng là cơ quan cao nhất thực hiện quyền tư pháp của một Nhà nước dân chủ và pháp quyền.

Thể chế hóa đầy đủ tư tưởng Hiến định về nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Để thi hành Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013, theo Nghị quyết số 64/2013/QH13 ngày 28.11.2013 của QH thì một trong những nhiệm vụ hàng đầu là phải rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành trước ngày Hiến pháp (sửa đổi) có hiệu lực cho phù hợp với Hiến pháp mới. Theo đó, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó có dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) và dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) phải được trình QH xem xét, thông qua chậm nhất là vào Kỳ họp thứ Mười, tháng 10.2015.

Nắm vững tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân như đã nêu ở trên để thể chế hóa một cách đầy đủ, đúng đắn, kịp thời vào dự án Luật Tổ chức Tòa án, dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng như các luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính là một yêu cầu bắt buộc trong việc sửa đổi, bổ sung lần này. Theo đó, đặt ra một số vấn đề cần phải làm rõ để bảo đảm sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đúng với tinh thần và nội dung của Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013.

Một là, thế nào là thực hiện quyền tư pháp? Quyền tư pháp có đồng nhất với quyền xét xử hay không? Hay có nội dung rộng hơn? Theo nghĩa Hán Việt, tư là giữ gìn, bảo vệ, pháp là pháp luật. Tư pháp là giữ gìn, bảo vệ pháp luật.  Thực hiện quyền tư pháp là thực hiện việc giữ gìn, bảo vệ pháp luật có đúng không? Và nếu như vậy thì có phải chỉ có Tòa án thực hiện quyền tư pháp hay còn các cơ quan khác nữa? Có làm rõ khái niệm Thực hiện quyền tư pháp mới cụ thể hóa được trong các luật về tổ chức. Trong mối quan hệ đó, với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát có kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa của Tòa án hay chỉ thực hiện chức năng công tố và với quyền kháng nghị hay không kháng nghị bản án của Tòa án thì Viện kiểm sát đã thực hành kiểm soát hoạt động xét xử tại phiên tòa. Theo chúng tôi, chỉ có duy nhất tòa án được Hiến pháp giao thực hiện quyền tư pháp. Quyền tư pháp đồng nhất với quyền xét xử, nhân danh công bằng và công lý của một quốc gia để phán xét. Các hoạt động như công tố của Viện kiểm sát nhân dân hay hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra không phải là cơ quan được giao thực hiện quyền tư pháp.

Hai là, Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 xác định nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án là Bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì về tổ chức và hoạt động của Tòa án có gì mới so với trước không? Cũng như vậy, Viện kiểm sát có nhiệm vụ Bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì có điều gì khác với Tòa án từ nhận thức đến tổ chức và hoạt động? Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 có sự điều chỉnh về nhiệm vụ thì tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cũng phải có sự điều chỉnh tương ứng.

Ba là, với nguyên tắc mới tranh tụng trong xét xử được bảo đảm đặt ra vấn đề phải chuyển từ thủ tục tố tụng theo mô hình xét hỏi sang thủ tục tố tụng tranh tụng hay vẫn là theo mô hình tố tụng xét hỏi như hiện nay mà chỉ tăng cường thêm tranh tụng? Và nếu như vậy thì phải quy định trong Luật tổ chức Tòa án, Luật tổ chức Viện kiểm sát cũng như Luật tố tụng hình sự như thế nào để tranh tụng trong xét xử được đảm bảo? Có mô hình tố tụng vừa xét hỏi vừa tranh tụng được không? Hay chỉ có hai mô hình: tranh tụng và xét hỏi?...

Bốn là, với nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, khác với quy định trước đây khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Có sự đổi mới gì về chế định hội thẩm nhân dân trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân hay không? Số lượng hội thẩm nhân dân so với thẩm phán trong các phiên tòa sơ thẩm quy định như thế nào? Số lượng hội thẩm nhân dân có nhiều hơn số lượng thẩm phán trong phiên tòa sơ thẩm như hiện nay hay không? Làm thế nào để hội thẩm nhân dân tham gia xét xử một cách thực chất không hình thức như hiện nay?

Năm là, với việc Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao sẽ được tổ chức như thế nào? Có hình thành các Tòa chuyên trách như hiện nay hay không?

Tất cả những vấn đề nêu trên cần được tính đến trong dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) hiện đang được soạn thảo.

Gs. Ts Trần Ngọc Đường