Cần một chiến lược sản xuất vaccine

10:09 | 01/01/2013
Tự sản xuất được 10/11 loại vaccine trong Chương trình tiêm chủng mở rộng, Việt Nam hiện đang có tiềm lực nghiên cứu và sản xuất vaccine đứng hàng đầu Đông Nam Á, và có thể xếp hàng thứ 4 - 5 ở châu Á.

Vaccine bại liệt - bước ngoặt lớn

Những năm cuối thập kỷ 50, miền Bắc bùng phát dịch bại liệt khiến rất nhiều trẻ em tử vong hoặc bị di chứng khủng khiếp. Năm 1959, virus bại liệt khiến cho 6.000 trẻ em bị liệt, tỷ lệ tử vong là 45 trẻ em trong số 100 nghìn ca nhiễm virus. Theo các ghi nhận y tế khi đó, bệnh nhân bại liệt nằm la liệt ở nhiều bệnh viện lớn, nằm tràn ra cả hành lang.

Trong hai năm 1960, 1961 Liên Xô giúp chúng ta mỗi năm 2 triệu liều vaccine bại liệt, đủ cho 2 triệu trẻ em dưới 3 tuổi, nhờ vậy dịch bệnh không còn xảy ra nặng nề. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tự sản xuất được để chủ động phòng chống dịch. “Khi phía Liên Xô đồng ý giúp mình làm vaccine (năm 1959),  Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch gọi tôi lên và bảo: “Cậu đã được đào tạo cơ bản về vaccine, virus rồi nên cậu đi thôi” – Gs. TSKH Hoàng Thủy Nguyên, một trong những nhà virus học và chế tạo vaccine hàng đầu của Việt Nam kể.

Sau 3 tháng ở Liên Xô, ông Nguyên quay lại Việt Nam và làm việc ròng rã trong hai năm sau đó cùng một nhóm nghiên cứu và cho ra đời vaccine chống bại liệt. “Hồi ấy, năm 1960, người ta nghi ngờ về trình độ của người Việt Nam với câu nói điếng người: “Làm vaccine bại liệt phải là người Liên Xô, chứ người Việt Nam nhỏ bé làm sao sản xuất được”, vị Giáo sư tuổi ngoài 70 nhớ lại. Để xua tan hoài nghi, cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch triệu tập một cuộc họp gồm lãnh đạo các vụ, cục chủ chốt và yêu cầu Gs Nguyên mang đến 2 lọ vaccine bại liệt. “Vào hội trường, Bộ trưởng bảo: “Cậu mở một lọ ra”. Tôi mở ra, Bộ trưởng bảo tiếp: “Cậu uống đi”. Tôi uống luôn. Rồi Bộ trưởng cầm lọ thứ hai và uống nốt. Xong, ông bảo tôi cùng ông ra khỏi hội trường. Buổi họp hôm ấy coi như xong”.

Sau đó, việc thử nghiệm vaccine bại liệt không ai còn bàn tán thêm gì nữa. Năm 1962, Việt Nam tự sản xuất được 2 triệu liều vaccine bại liệt, rồi số lượng sản xuất được cứ lớn lên dần. Đến nay, về cơ bản bệnh bại liệt đã được thanh toán.

Trước đây có những sản phẩm Việt Nam chưa tự sản xuất được, như vaccine phòng viêm gan B, bạch hầu, ho gà…, nhưng ngày nay chúng ta có khả năng sản xuất được nhiều dòng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành rẻ, hoàn toàn cạnh tranh được với các tập đoàn quốc tế trên thị trường nội địa. Pgs.Ts Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, ở Việt Nam, tỷ lệ phản ứng nặng sau tiêm vaccine rất thấp, nằm trong giới hạn cho phép và thấp hơn so với mức chung của Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra. Mới đây, hôm Bộ Y tế họp báo tổng kết 25 năm Chương trình tiêm chủng mở rộng, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, hiện nước ta đã tự chủ sản xuất 10/11 loại vaccine trong chương trình tiêm chủng mở rộng, góp phần quan trọng vào việc chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân, giảm gánh nặng chi phí điều trị bệnh tật. Từ thành công Chương trình tiêm chủng mở rộng và các chương trình y tế khác, Việt Nam đã giảm đáng kể tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 5 tuổi và đạt được mục tiêu số 4 của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trước thời hạn 8 năm.

Cần một chiến lược sản xuất vaccine

 Hiện nay, Nhà nước cũng đã có sự đầu tư đáng kể cho doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Một số cơ sở sản xuất vaccine được đầu tư tới trên 30 triệu USD. Với mức đầu tư về thiết bị, cơ sở vật chất, và với đội ngũ cán bộ, chuyên gia nghiên cứu trong nước hiện nay, theo Tổng giám đốc Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1 Gs Nguyễn Thu Vân, Việt Nam hiện đang có tiềm lực nghiên cứu và sản xuất vaccine đứng hàng đầu Đông Nam Á, và có thể xếp hàng thứ 4 - 5 ở châu Á. Không những chủ động được nguồn vaccine phục vụ tiêm chủng trong nước, Việt Nam còn xuất khẩu vaccine ra nước ngoài. Chúng ta đã xuất khẩu vaccine sang một số nước như Ấn Độ, Sri Lanka, Hàn Quốc, Đông  Timor, Gs Vân cho biết. Tuy nhiên, tất cả đều là những giao dịch mang tính thỏa thuận song phương. Việt Nam vẫn chưa thể xuất khẩu cung cấp vaccine cho Tổ chức Y tế Thế giới vì chưa có một hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn mà họ đòi hỏi. 

Những chuyên gia lâu năm trong ngành vệ sinh dịch tễ cho rằng, nước ta vẫn đang thiếu một chiến lược về sản xuất và sử dụng vaccine. Điều này không chỉ gây khó khăn cho ngành công nghiệp giàu tiềm năng này, mà còn tạo ra những rủi ro cho sức khỏe người dân do thiếu nguồn vaccine trong tương lai. Lâu nay, hàng năm nước ta vẫn nhận được viện trợ không hoàn lại của quốc tế để nhập khẩu vaccine từ nước ngoài. Điều này làm giảm rất lớn nhu cầu đặt hàng của Nhà nước đối với các nhà sản xuất vaccine trong nước. Gs Nguyễn Thu Vân cho biết, công ty của bà không thể đẩy mạnh quy mô sản xuất dù đã được Nhà nước đầu tư đáng kể trong khi vẫn phải liên tục vận hành, bảo trì  thiết bị, trả lương cho đội ngũ cán bộ. Để tồn tại, nhiều cơ sở đã phải chuyển sang sản xuất những sản phẩm không đúng với chức năng của mình.

Mặc dù trình độ công nghệ vaccine Việt Nam bắt kịp trình độ thế giới; nhưng năng lực sản xuất đại trà hiện còn rất hạn chế. Mỗi năm Việt Nam chỉ sản xuất được khoảng 50 triệu liều vaccine các loại, trong đó chủ yếu là các loại vacine trong chương trình tiêm chủng quốc gia, nhiều loại vaccine hiện mới chỉ sản xuất được với số lượng khiêm tốn, chỉ đáp ứng khoảng 1/10 nhu cầu tiêm chủng trong nước. Vì vậy, trong bối cảnh Việt Nam hiệån nay đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình do đó nguồn viện trợ ODA sẽ không thể kéo dài vĩnh viễn, Nhà nước cần phải có một kế hoạch dài hạn đặt hàng các cơ sở sản xuất trong nước, trong đó nhu cầu tăng dần qua thời gian. Điều này sẽ ngăn được tình trạng lệ thuộc nguồn cung cấp vaccine của quốc tế. Nếu chờ đến lúc quốc tế không viện trợ nữa mới đặt hàng trong nước thì đã muộn vì việc sản xuất vaccine đòi hỏi một quy trình thử nghiệm và thẩm định chất lượng nghiêm ngặt, khá tốn thời gian. Đồng thời nhà sản xuất vaccine trong nước không thể nào đột ngột tăng quy mô sản xuất một cách quá nhanh. Và một khi để xảy ra tình trạng thiếu vaccine thì rủi ro mà cộng đồng phải gánh chịu là rất lớn, nhất là khi giá thành vaccine của nước ngoài rất cao.

Phong An