Làng Kim Hoàng tài hoa và văn hiến

19/04/2009
Làng Kim Hoàng, xưa thuộc tổng Hương Canh, huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức), Hà Nội từ lâu đã nổi tiếng với nghề vẽ tranh dân gian truyền thống, đây cũng là một vùng đất có truyền thống khoa bảng, cách mạng của Thủ đô.

Những nông dân tài hoa

Tổng Hương Canh xưa có hai xã là Hương Canh và Vân Canh, gồm tất cả 7 làng Canh. Đây là một vùng đất cổ, các làng Canh đều được gọi theo Nôm là kẻ Canh, cư dân đến sống ở đây ít nhất cũng từ đầu công nguyên. Theo bản Ngọc Phả do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn, từ đời Vua Hùng thứ XVIII, ông Phan Tây Nhạc đã từ Châu Ái (Thanh Hóa) ra vùng Canh cư ngụ. Sau ông có theo Tản Viên Sơn Thánh đi đánh quân Thục, nên được Vua Hùng gả cháu gái và cho phong ấp ở vùng Canh. Đây là một vùng quê cổ kính, văn hiến, đã được ghi nhận qua câu phương ngôn nổi tiếng: Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương

Kim Hoàng có cả tranh thờ, như tranh Ông Công, Ông Táo, Các vị Tiên sư…; tranh Tết, như Tiến lộc, Tiến tài, Lợn, Gà…; cả tranh sinh hoạt, như Đấu vật, chọi trâu, Đi cày, Hứng dừa… Tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống được nghệ nhân tạo tác chủ yếu bằng in bản. Tranh Kim Hoàng, sau khi dùng ván in nét, người nghệ nhân phải dùng bảng màu đa sắc để vẽ từng bức tranh. Tranh Kim Hoàng được nghệ nhân vẽ trên giấy điều, giấy tàu vang, bởi thế mà còn được gọi là tranh đỏ Kim Hoàng.

 

Bảy làng Canh gồm: Canh Ngọc Mạch, Canh Hòe Thị, Canh Thị Cấm, Canh Hậu Ái, Canh An Trai, Canh Kim Bảng và Canh Hoàng Bảng. Hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng, đến cuối thế kỷ XVI đã nhập thành một làng, là Kim Hoàng; và sau đó dựng ngôi đình lớn. Tấm biển Lưỡng bảng hội đình hiện còn lưu giữ ở đình Kim Hoàng. Ở cây cột cái của đình làng Kim Hoàng còn ghi thời điểm tạo dựng là năm Chính Hòa thứ 21, 1701. Ngôi đình 7 gian, có kiến trúc tiêu biểu của thế kỷ XVII, XVIII, với một hệ thống các bức chạm khắc gỗ rất đẹp và giá trị. Các điêu khắc gỗ ở đây cho thấy cuộc sống dân gian hồn nhiên, giàu sức sống, như: cảnh đánh vật, bắn cung, múa đinh ba phản ánh tinh thần thượng võ; cảnh người đứng thổi sáo trữ tình; cảnh hội làng nhộn nhịp…

Người dân làng Kim Hoàng hầu hết là nông dân thuần túy, canh tác giỏi, nhưng đều say mê nghề mỹ nghệ và rất khéo tay. Từ xưa, người Kim Hoàng đã thạo nghề sơn, thêu… nhưng nghề nổi tiếng khắp thiên hạ là nghề vẽ tranh. Đến mức người tứ xứ gọi là Phường Kim Hoàng, với ý tôn vinh một làng nghề có uy tín.

Theo truyền thống, hàng năm, cứ đến rằm tháng 11 âm lịch người Kim Hoàng tổ chức giỗ Tổ phường, rồi chia ván in tranh cho các thành viên của phường. Các nghệ nhân Kim Hoàng tập trung vào việc in, vẽ tranh suốt cả tháng. Đến rằm tháng Chạp, phường Kim Hoàng làm lễ tế Thánh sư, rồi đưa tranh đi chợ bán. Giữa tháng Giêng, hết mùa tranh Tết, chủ phường lại thu hồi ván in về quản giữ chu đáo. Trong lịch sử làng Kim Hoàng, có một tai họa khốc liệt, là trận vỡ đê Liên Mạc năm 1915, nước lũ cuốn trôi nhiều tài sản cửa nhà và rất nhiều ván in tranh. Đó là một tổn thất quá lớn đối với phường tranh Kim Hoàng.

Truyền thống khoa bảng

Cũng như các làng Canh khác, Kim Hoàng là một làng khoa bảng nổi tiếng. Ở làng Kim Hoàng, người đỗ đầu tiên là ông Trần Hiền sinh năm 1684, tiến sỹ khoa Quý Sửu 1733 đời Lê Thuần Tông. Trước đó, năm 25 tuổi, ông đã đỗ Hương cống, mở trường dạy học và có khá đông học trò. Khoa thi Quý Sửu 1733, cùng đỗ Tiến sỹ với Trần Hiền còn có 3 học trò của ông là Trần Mô, Trần Đồng và Trần Danh Tiêu. Sau khi đỗ, Trần Hiền làm quan đến chức Hàn lâm viện Đãi chế. Hơn 30 năm sau, cháu nội Trần Hiền là Trần Bá Lãm (1758-1815) đỗ Tiến sỹ khoa Đinh Mùi 1787, đời Lê Mẫn Đế, sau làm quan tới chức Lại khoa cấp sự trung, rồi Đốc đồng xứ Hải Dương, hàm Đông các Đại học sỹ. Một vị khoa bảng của Kim Hoàng nữa là Lý Trần Quán, đỗ Tiến sỹ khoa Bính Tuất 1766 đời Lê Cảnh Hưng, làm quan tới chức Hiến sát xứ Hải Dương, Hiệp trấn Sơn Tây. Lý Trần Quán là một tác gia có tiếng đương thời, để lại cho đời tác phẩm Thiên Nam liệt khoa hội tuyển và một số thơ văn khác. Em ruột Lý Trần Quán là Lý Trần Dự, đỗ Tiến sỹ khoa Kỷ Sửu 1769 đời Lê Cảnh Hưng, làm quan đến chức Đốc đồng Lạng Sơn, Hàn lâm viện Đãi chế. Ngoài các vị đại khoa, làng Kim Hoàng còn 31 người đỗ Hương cống. Trong đó có ông Trần Ánh, cùng 3 con là Trần Hiếu, Trần Diễn, Trần Trí, đều đỗ Hương cống; và Tiến sỹ Trần Bá Lãm có con trai là Trần Tùng và con Trần Tùng là Trần Đĩnh đều đỗ Hương cống…

Truyền thống khoa bảng và văn hóa của người vùng Canh làm cơ sở cho truyền thống cách mạng. Tháng 10.1929, các tổ Nông hội đầu tiên của cả vùng ra đời tại làng Kim Hoàng, rồi dấy lên các cuộc đấu tranh lớn chống thực dân. Những chiến sỹ cách mạng ở địa phương đã mở trường Hứa Do, thu hút nhiều thanh thiếu niên vào trường cách mạng. Năm 1943, Hội truyền bá quốc ngữ được thành lập do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện là Hội trưởng, đặt tại trụ sở trường Hứa Do. Từ ngày 26.11-3.2.1946, tại một căn gác nhỏ của trường Hứa Do, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã quyết định nhiều việc lớn, chuẩn bị kháng chiến lâu dài…

Ngày nay, truyền thống tài hoa và văn hiến của vùng quê này lại được tiếp nối với nhiều trí thức, văn nghệ sỹ tài năng, danh tiếng như nhà sử học Văn Tân, Giáo sư y khoa Nguyễn Tài Thu, họa sỹ Bùi Xuân Phái…

Anh Chi